Liên kết website

 

Số lượt truy cập
33025472
truyền thống cách mạng
Tháng năm lịch sử

       Tháng Năm, cả nước lại phấn khởi chào đón những ngày kỷ niệm lớn của cả dân tộc - ngày 7.5.1945, chiến thắng Điện Biên Phủ và 19.5.1890 – sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh.

 Chiến thắng Điện Biên Phủ

 

        Ngày 19.12.1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta anh dũng bước vào cuộc chiến trường kỳ chống lại thực dân Pháp xâm lược. Dựa vào sức mình là chính, với vũ khí thô sơ và tinh thần "Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh", quân và dân ta đã lần lượt đánh bại các chiến lược quân sự của thực dân Pháp. Chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông năm 1947 có ý nghĩa quan trọng trong năm đầu kháng chiến toàn quốc. Chiến thắng Biên giới năm 1950 đã tạo ra một bước chuyển cơ bản cho cuộc kháng chiến bước vào giai đoạn mới, chuyển sang liên tục tấn công và phản công địch. Tháng 9.1953, Bộ Chính trị họp bàn và quyết định mở cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân với phương châm: Tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt, tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta, chọn nơi địch sơ hở và nơi tương đối yếu mà đánh, chọn những hướng địch có thể đánh sâu vào vùng tự do, đẩy mạnh chiến tranh du kích, giữ vững thế chủ động, kiên quyết buộc địch phải phân tán lực lượng. Đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ - một trận quyết chiến chiến lược. Tại đây đã xuất hiện những điều đặc biệt chưa từng có trong lịch sử chiến tranh của nhân loại:

 
 
Người dân tham gia đông gấp nhiều lần quân đội
 
       Vùng rừng núi Tây Bắc rộng lớn trên 20.000 km2, dân cư chỉ có 8,5 người trên 1 km2, nhưng có hàng chục vạn dân công phục vụ cho trận chiến Điện Biên Phủ. Đội quân đông nhất gồm thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, được huy động từ hậu phương tới hàng chục vạn người và được tổ chức biên chế như quân đội. Theo một tài liệu của Viện nghiên cứu lịch sử quân sự - Bộ Quốc phòng thì tỉ lệ dân công hỏa tuyến so với bộ đội chính quy là 10/1 (người dân tham gia trận đánh đông gấp 10 lần quân đội). Dân công được tổ chức biên chế thành tiểu đội, trung đội, đại đội, có phiên hiệu riêng và tên gọi riêng. Như đội quân xe đạp, đội quân sửa đường…, đặc biệt là có “đội quân đóng cối xay”.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Đội hình vận tải bằng xe thồ phục vụ Chiến dịch Điện Biên Phủ.       
 
      Thời điểm 1954, xe đạp là một tài sản quý, nhưng người dân sẵn sàng mang ra phục vụ chiến dịch bằng cách gia cố thành chiếc xe thồ hàng, làm nhiệm vụ vận tải lương thực, vũ khí, đạn dược lên chiến trường Điện Biên Phủ. Mỗi chiếc xe đạp thồ lúc đầu chở được 100kg lương thực. Sau cải tiến nâng dần lên chở 200-300kg, đặc biệt dân công Ma Văn Thắng quê tỉnh Phú Thọ chở được 352kg. Như vậy, 1 người và 1 chiếc xe đạp bằng 100 dân công gánh gạo. Tính ra đội quân xe đạp thồ 20.000 người bằng 2 triệu dân công gánh, gùi.
 
        Cuộc lui quân chưa từng có
 
       Trước khi nổ súng mở màn trận Điện Biên Phủ gần 2 tháng, bộ đội ta đã một lần lui quân khỏi các vị trí bàn đạp dù đã bố trí xong xuôi sẵn sàng xuất kích. Theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Ngày 25.01.1954 một sự cố không may xảy ra, một chiến sĩ của Đại đoàn 312 bị địch bắt. Sau đó ta đã bắt được điện đài của địch gọi báo cho nhau: Việt Minh sẽ tấn công chiều 25.01 (thực tế sau này mới làm rõ do cơ quan hậu cần của ta điện báo cho nhau nên địch biết tin, không phải do chiến sĩ bị bắt khai báo). Vì thế Bộ chỉ huy quyết định hoãn lại 24 giờ, chuyển sang 26.01.
 
       Chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ ngày 7.5.1954 thành công là nhờ vào quyết định lui quân sáng suốt ngày 25.01.1954. Cuộc lui quân diễn ra trong bối cảnh quân ta đông hơn, lực lượng mạnh hơn, thế ta lớn hơn, ta bao vây ở phía trên các triền núi và đã bố trí xong binh lực, hỏa lực. Về lực lượng, ta có 27 tiểu đoàn bộ binh, địch có 12 tiểu đoàn; trọng pháo yểm trợ cho bộ binh có 64 khẩu, địch có 48; pháo của ta đặt trên núi hướng xuống các vị trí tập đoàn địch ở lòng chảo; địch có 5 chiếc xe tăng loại nhẹ và có máy bay yểm trợ từ xa và ta có 4 đại đội súng cối 120 ly 16 khẩu; 1 trung đoàn cao xạ pháo 37 ly 24 khẩu và rất nhiều súng DKZ (loại súng chống xe tăng) trang bị đến từng đại đội.
 
       Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã suy nghĩ và thấy những khó khăn trước mắt. Ghi nhớ lời chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng, chắc thắng mới đánh, không chắc thắng là không đánh, thất bại là hết vốn”. Sau cuộc họp Đảng ủy, Bộ chỉ huy Quân đội nhân dân Việt Nam vào sáng 26.01, Đại tướng đã quyết định hoãn cuộc tấn công chiều hôm đó. Lệnh lui quân được ban hành đến toàn mặt trận vào buổi chiều.Tất cả các đơn vị lập tức lui về vị trí tập kết. Pháo lại phải kéo ra và việc này gian khổ, nguy hiểm hơn nhiều so với kéo pháo vào.
 
       Gần 2 tháng sau đó, quân ta đã nghi binh đánh lạc hướng địch, chuẩn bị đầy đủ cho trận đánh dài. Khâu chuẩn bị cho trận đánh quan trọng được hoàn tất chặt chẽ hơn trước. Đường mở rộng hơn, dài hơn, hào được đào sâu hơn và gần căn cứ của địch; pháo được kéo vào và xây dựng công sự kiên cố hơn. 17 giờ 05 phút ngày 13.3.1954, thời cơ đã đến, Đại tướng Võ Nguyên Giáp ra lệnh: “Chiến dịch lịch sử bắt đầu, pháo binh bắn, bắn thật mạnh, bắn cấp tập”.Sau 55 ngày đêm quân ta liên tục tấn công, tiêu diệt từng bộ phận và cứ điểm của quân địch, chiếm được sở chỉ huy của chúng. Chiều ngày 7.5.1954, cờ đỏ “Quyết chiến, quyết thắng” phất bay trên nóc hầm tướng De Castries, chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng.
 
       Sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh
 
       Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh sống rất giản dị và khiêm tốn. Mỗi dịp sinh nhật của mình, Người thường đi công tác, thăm bà con nhân dân,… để tránh việc tổ chức sinh nhật linh đình.
 
       Lần đầu tiên, ngày sinh nhật của Chủ tịch Hồ Chí Minh được công bố vào năm 1946. Buổi chúc mừng sinh nhật được tổ chức như để biểu thị khối đoàn kết của nhân dân quanh vị Nguyên thủ của một quốc gia non trẻ đang đương đầu với những thử thách to lớn hơn là một sự sùng bái đối với một Lãnh tụ.
 
       Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể lại, tại buổi mừng sinh nhật Bác, các cháu thiếu nhi nội ngoại thành Thủ đô vốn là trẻ bán báo hay trẻ mồ côi tại ngôi trường Bác đã từng đến thăm... đánh trống ếch mang theo những huy hiệu là các con chữ "i tờ" của phong trào diệt dốt đến tặng Chủ tịch nước và hát những bài ca cách mạng. Tiếp đó là đoàn đại biểu các chiến sĩ Nam bộ từ chiến trường ra công tác và đoàn đại biểu Văn hóa Cứu quốc đến chúc thọ Bác. Đáp lại tình cảm của mọi người, Bác nói với các chiến sĩ Nam bộ: "Thật ra, các báo ở đây làm to cái ngày sinh nhật của tôi, chứ tuổi năm mươi sáu chưa có gì đáng được chúc thọ, cũng hãy còn như là thanh niên cả, mà trước các anh, các chị, trước cảnh êm vui ở Bắc đây, tôi thật lấy làm xấu hổ vì trong Nam chưa được thái bình".
 
       Còn với các chiến sĩ văn hóa đến xin khẩu hiệu cho phong trào "Đời sống mới", Bác đề xuất câu: "Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư" và giải thích:"Hàng ngày ta phải ăn cơm, uống nước, phải thở khí trời mà sống. Những việc đó ngày xưa ông cha ta phải làm, bây giờ chúng ta phải làm, con cháu ta sau này cũng phải làm. Vậy ăn cơm, uống nước và thở khí trời để đem lại cuộc sống cho con người thì đó là những việc không khi nào trở thành cũ cả. "Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư" đối với đời sống mới cũng vậy".
 
       Năm 1947, chiến tranh lan rộng ra cả nước, sinh nhật Bác chỉ có một bó hoa rừng của những người thân cận đang bảo vệ Bác tặng tại chiến khu ở Sơn Dương (Tuyên Quang). Sau đó Bác đã dành bó hoa ấy để đi viếng người cấp dưỡng của mình vừa qua đời vì sốt rét.
Năm 1948, đáp lại những lời chúc mừng sinh nhật, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư cảm ơn Quốc hội, Chính phủ, các đoàn thể và các tầng lớp nhân dân. Thư có đoạn: "Đồng bào yêu mến chúc thọ tôi, tôi biết lấy gì, nói gì để báo đáp lại lòng thân ái ấy? Tôi chỉ có một cách báo đáp là kiên quyết cùng đồng bào chịu cực, chịu khổ, quyết cùng đồng bào kháng chiến cho đến thắng lợi hoàn toàn, quyết cùng đồng bào tranh lại thống nhất và độc lập thật sự cho Tổ quốc, quyết cùng đồng bào làm thế nào cho con cháu chúng ta và muôn đời về sau được sung sướng và tự do".     
             
       Năm 1949, đáp lại đề nghị tổ chức lễ sinh nhật, Bác làm bài thơ "Không đề": "Vì nước chưa nên nghĩ đến nhà / Năm mươi chín tuổi vẫn chưa già / Chờ cho kháng chiến thành công đã / Bạn sẽ ăn mừng sinh nhật ta”. Sau ngày sinh nhật, Bác gửi thư cảm ơn các tầng lớp nhân dân đã mừng thọ và hẹn: "Đến ngày toàn quốc ăn mừng hoàn toàn thắng lợi, trong cuộc kỷ niệm to ấy, tôi sẽ vui vẻ tiếp đồng bào và chiến sĩ, kèm thêm một kỷ niệm nhỏ là ngày sinh nhật của tôi".
 
       Ngày 19.5.1950, trong một cuộc họp cán bộ các cơ quan Trung ương ở Thác Dẫng (Tuyên Quang), đáp lại tình cảm của mọi người, Bác làm một bài thơ tự cảm về tuổi tác của mình: "Sáu mươi tuổi hãy còn xuân chán / So với ông Bành vẫn thiếu niên / Ăn khỏe ngủ ngon, làm việc khỏe / Trần mà như thế kém gì tiên!".
 
       Đến dịp 63 tuổi (19.5.1953), Bác làm bài thơ chữ Hán "Thất cửu": "Nhân vị ngũ tuần thường thán lão / Ngã kim thất cửu chính khang cường / Tự cung thanh đạm, tinh thần sảng / Tố sự thung dung nhật nguyệt trường”. (Nhà thơ Xuân Thủy dịch: "Chưa năm mươi đã kêu già / Sáu ba, mình vẫn nghĩ là đang trai / Sống quen thanh đạm nhẹ người / Việc làm tháng rộng ngày dài ung dung").
                          
Các em học sinh trường Trưng Vương (Hà Nội) đến chúc thọ Bác (19.5.1956).
 
       Ngày 19.5.1954, lễ mừng sinh nhật Bác hòa chung với không khí đón mừng chiến thắng Điện Biên Phủ bằng cuộc gặp gỡ của Người với những đại biểu chiến sĩ có thành tích tiêu biểu từ chiến trường trở về chiến khu. Dịp này, Bác đã gắn huy hiệu cho chiến sĩ trẻ bắt sống tướng De Castries.
 
       Sau ngày hòa bình, Bác thường vắng mặt ở nhà để tránh những cuộc tiếp mừng sinh nhật. Ngày 19.5.1958, Bác đi thăm chùa Hương; 19.5.1959, Bác đi thăm chùa Tây Phương.
Từ năm 1960 đến 1967, vào trung tuần tháng 5, Bác thường sang Trung Quốc để làm công tác ngoại giao, tranh thủ nước bạn ủng hộ cuộc kháng chiến đang diễn ra ngày càng ác liệt ở trong nước.
 
       Sinh nhật năm 1965, trong dịp sang Trung Quốc, Bác thăm Khúc Phụ, quê hương của Khổng Tử và làm bài thơ "Phỏng Khúc Phụ": "Ngũ nguyệt thập cửu phỏng Khúc Phụ / Cổ tùng cổ miếu lương y hy / Khổng gia thế lực kim hà tại / Chỉ thặng tà dương chiếu cổ bi”. (Đặng Thai Mai dịch: "Mười chín tháng năm thăm Khúc Phụ / Miếu xưa vẫn dưới bóng tùng xưa / Uy quyền họ Khổng giờ đâu nhỉ? / Lấp loáng bia xưa chút ánh tà").
 
       Và sinh nhật của 2 năm cuối cùng (1968, 1969), Bác đều dành để xem và sửa lại "Di chúc", sau đó tiếp chị Phan Thị Quyên (vợ liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi) và chị Nguyễn Thị Châu (cán bộ Hội Liên hiệp Thanh niên và Sinh viên giải phóng khu Sài Gòn - Gia Định). Dường như vào thời điểm chiến tranh còn gian khổ và nước nhà chưa thống nhất, những tình cảm sâu nặng nhất Bác luôn muốn dành cho miền Nam ruột thịt.
Ban Biên tập
(Nguồn Tiền Phong online và Vnexpress)


 

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Các trang: 1  2  3  4  5  6  7  
Xem tin theo ngày
Trang chủ  Sơ đồ site
       
   LỰC LƯỢNG THANH NIÊN XUNG PHONG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH                 Người phát ngôn:  Đồng chí: Lê Minh Khoa, Chỉ huy trưởng Lực lượng TNXP TP. Hồ Chí Minh
       Địa chỉ: số 636, đường Võ Văn Kiệt, Phường 1, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh                    ĐT: (028) 38 249 623; Email: lmkhoa.tnxp@tphcm.gov.vn
       Điện thoại: (028) 38 249 623 – 38 249 624 – Fax: (08) 39 245 211                                                 Đồng chí: Nguyễn Văn Bình, Phó Chỉ huy trưởng Lực lượng TNXP TP. Hồ Chí Minh.
       Website: www.tnxp.hochiminhcity.gov.vn –  Email: tnxp@tphcm.gov.vn                                  ĐT: (028) 38 249 623; Email: nguyenvanbinh.tnxp@tphcm.gov.vn