Liên kết website

 

Số lượt truy cập
33188548
truyền thống cách mạng
Những thành tựu nổi bật 75 năm nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2020)

 

      Năm 1858, thực dân Pháp mở đầu cuộc tấn công xâm lược nước ta. Ngày 03/02/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, lãnh đạo nhân dân cả nước đứng lên chống thực dân, đế quốc, giành độc lập cho dân tộc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các cao trào cách mạng diễn ra trên khắp cả nước với khí thế sôi nổi. Ngày 09/5/1945, phát xít Nhật đảo chính hất cẳng Pháp. Tháng 3/1945, Trung ương ra Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Tháng 4/1945, Trung ương triệu tập Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ, quyết định nhiều vấn đề quan trọng, thống nhất các lực lượng vũ trang thành Việt Nam giải phóng quân. Ngày 16/4/1945, Tổng bộ Việt Minh ra Chỉ thị tổ chức các Ủy ban Dân tộc giải phóng các cấp và chuẩn bị thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam, tức Chính phủ lâm thời cách mạng Việt Nam. Từ tháng 4/1945 trở đi, cao trào kháng Nhật, cứu nước diễn ra mạnh mẽ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước đồng loạt tiến hành Tổng khởi nghĩa, giành chính quyền. Chỉ trong vòng 15 ngày cuối tháng 8/1945, cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi hoàn toàn, chính quyền trong cả nước về tay nhân dân. Ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố trước quốc dân và thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (nay là nước Cộng hòa XHCN Việt Nam). Sau 75 năm xây dựng, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục và đào tạo, quốc phòng - an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế.
      Về chính trị
      Việt Nam đã trở thành một quốc gia có chế độ chính trị độc lập, có chủ quyền lãnh thổ và tự quyết định con đường phát triển của mình. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một chính thể dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người dân một nước độc lập, làm chủ vận mệnh của mình. Nước Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành một nước độc lập, tự do và dân chủ, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày 06/01/1946, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên đã diễn ra trên cả nước. Ngày 25/4/1976, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung được tổ chức trên toàn quốc. Quốc hội quyết định lấy tên nước là Cộng hòa XHCN Việt Nam (từ ngày 02/7/1976). Quốc kỳ là lá cờ đỏ sao vàng, Quốc ca là bài Tiến quân ca, Quốc huy là “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”; thủ đô là Hà Nội; thành phố Sài Gòn đổi tên thành Thành phố Hồ Chí Minh.
      Nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH ngày càng sáng tỏ. Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản. Việc ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên bước đầu có kết quả. Nhân dân ngày càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng.
      Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN. Quốc hội đã có những bước đổi mới quan trọng; đã làm tốt hơn chức năng lập pháp; ban hành Hiến pháp 2013; hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước theo nguyên tắc của nhà nước pháp quyền XHCN. Chính phủ có những thay đổi rõ rệt từ cơ cấu tổ chức đến phương thức hoạt động; nguyên tắc pháp quyền trong hoạt động của các cơ quan nhà nước được tuân thủ tốt hơn. Hệ thống các cơ quan tư pháp đã có những bước cải tiến theo yêu cầu dân chủ và pháp quyền. Chính quyền địa phương có bước chuyển rõ nét theo yêu cầu của xây dựng Nhà nước pháp quyền; UBND các cấp thích nghi dần với những yêu cầu quản lý mới trong điều kiện kinh tế thị trường. Các cấp ủy đảng, chính quyền lắng nghe, tăng cường đối thoại với nhân dân, tôn trọng các ý kiến khác nhau.
Tranh cổ động tuyên truyền kỷ niệm 75 năm Ngày cách mạng tháng 8 thành công
và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Ảnh tuyengiao.vn)
 
      Về kinh tế
      Nền kinh tế thoát khỏi tình trạng trì trệ, khủng hoảng, kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Giai đoạn 2016 - 2020, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) ước đạt 6,8%/năm; dự trữ năm 2020 là trên 80 tỉ USD. Kinh tế 06 tháng đầu năm 2020 diễn ra trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 bùng phát trên phạm vi toàn cầu, ảnh hưởng nghiêm trọng đến mọi mặt của các quốc gia trên thế giới, trong đó có nước ta, nhưng GDP 06 tháng đầu năm 2020 của nước ta vẫn đạt mức tăng trưởng dương, tăng 1,81%. Chỉ số môi trường kinh doanh của Việt Nam năm 2019 xếp thứ 70/190 quốc gia, vùng lãnh thổ.
      Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế từng bước được đẩy mạnh; phát huy lợi thế ngành và lãnh thổ. Chuyển nền kinh tế từ thế bị bao vây, cấm vận, khép kín sang nền kinh tế mở và hội nhập quốc tế. Đến đầu năm 2020, Việt Nam đã tham gia 16 hiệp định thương mại tự do (FTA), có quan hệ thương mại với 224 đối tác, trong đó có hơn 70 nước là thị trường xuất khẩu của ta; có quan hệ với hơn 500 tổ chức quốc tế; 71 nước công nhận quy chế kinh tế thị trường cho Việt Nam. GDP bình quân đầu người tăng từ 1.332 USD/người năm 2010 lên khoảng 3.000 USD/người năm 2020.
      Về văn hóa
      Văn hóa phát triển đa dạng, phong phú, dân tộc, khoa học, đại chúng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trở thành nguồn lực phát triển đất nước. Nhiều giá trị văn hóa Việt Nam được thế giới công nhận và trở thành một phần trong kho tàng văn hóa nhân loại. Hệ thống thông tin đại chúng phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ, đáp ứng ngày càng tốt cho đời sống tinh thần nhân dân. Đến tháng 01/2020, có khoảng 68,17 triệu người Việt Nam sử dụng dịch vụ internet.
      Công tác bảo tồn, phát huy di sản văn hóa các dân tộc đạt nhiều kết quả; di sản văn hóa đang trở thành tài nguyên độc đáo của du lịch Việt Nam. Công tác sưu tầm, bảo quản, tôn tạo, tu bổ và phát huy giá trị di sản văn hóa của dân tộc đã đạt nhiều thành tựu, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo văn hóa đa dạng của nhân dân. Đến năm 2020, cả nước có 28 di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được UNESCO ghi danh.
      Về xã hội
      Hệ thống chính sách xã hội được xây dựng và ngày càng hoàn thiện. Nhà nước đã ban hành Bộ luật lao động và hàng loạt các chính sách về giải quyết việc làm, dạy nghề, xuất khẩu lao động, phát triển nguồn nhân lực, phát huy nội lực sức lao động, phát triển thị trường lao động theo định hướng XHCN, cải cách tiền lương, đổi mới chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hộ lao động. Công tác xác nhận thương binh, liệt sĩ, thống nhất chính sách, chế độ giữa hai miền, công tác quy tập, xây dựng nghĩa trang liệt sĩ được đẩy mạnh. Tỷ lệ hộ đói, nghèo đã giảm liên tục, đến năm 2000, cơ bản xóa xong tình trạng đói kinh niên.
      Về y tế
      Công tác y tế, chăm sóc sức khoẻ nhân dân được tăng cường, có sự đổi mới theo hướng đa dạng hóa các hình thức tổ chức khám, chữa bệnh. Tuổi thọ trung bình tăng, đến năm 2020 ước đạt 73,7 tuổi. Mạng lưới y tế cơ sở được phát triển rộng khắp toàn quốc. Việt Nam được quốc tế đánh giá là một trong số ít quốc gia có mạng lưới y tế hoàn chỉnh, tổ chức rộng khắp tới tận thôn, bản và đang là mô hình mà nhiều nước trên thế giới quan tâm, học hỏi kinh nghiệm.
      Những thành tựu y học nổi bật:
      + Chủ động sản xuất được nhiều vắcxin phòng bệnh: bệnh tả, bệnh đậu mùa, thương hàn, bệnh bại liệt, cúm mùa 3 type; bào chế và sản xuất được các thuốc thông thường bằng nguyên liệu tại chỗ; ứng dụng công nghệ sinh học vào sàng lọc và chẩn đoán phát hiện nhanh, chính xác các tác nhân gây dịch, như: sởi, sốt xuất huyết, tay chân miệng.
      + Là điểm sáng trong thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ: đã thanh toán được bệnh bại liệt, khống chế được bệnh uốn ván sơ sinh, ho gà, bạch hầu; tỷ suất chết trẻ em dưới 5 tuổi giảm xuống 22,12 phần nghìn, đưa Việt Nam thành một trong năm nước đang phát triển có mức tử vong bà mẹ, trẻ em giảm nhanh nhất trên thế giới.
      + Kiểm soát và ngăn ngừa nhiều dịch bệnh nguy hiểm: nhiều bệnh dịch có nguy cơ bùng phát thành dịch lớn đã được khống chế (sốt xuất huyết, viêm não virus, lao, thương hàn, tả); Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên khống chế thành công dịch SARS, cúm A/H5N1, cúm A/H1N1; ngăn chặn thành công không để một số dịch bệnh nguy hiểm mới nổi xâm nhập như cúm A/H7N9, Ebola, MERSCoV...; có khả năng xét nghiệm và phát hiện bệnh như MERS-CoV, Ebola, cúm A/H7N9 hay COVID-19, v.v....
      + Làm chủ nhiều công nghệ cao như: thực hiện tốt phẫu thuật nội soi, can thiệp tim mạch, chẩn đoán hình ảnh, hỗ trợ sinh sản, điều trị ung thư máu, nhồi máu cơ tim, bệnh lý xương - khớp, bỏng, phẫu thuật tạo hình; ứng dụng tế bào gốc trong điều trị bệnh về máu; có 15 cơ sở ghép được tim, phổi, thận, gan, ghép giác mạc, ghép tế bào gốc tạo máu. Năm 2019, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội là bệnh viện công lập đầu tiên đã triển khai thành công kỹ thuật can thiệp bào thai - là kỹ thuật cao nhất, hiện đại nhất trong y học bào thai hiện nay.
      Về giáo dục và đào tạo
      Quy mô giáo dục phát triển nhanh, thực hiện nền giáo dục toàn dân, đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng của nhân dân. Năm 2010, tất cả các tỉnh, thành phố đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS. Tính đến năm học 2019 - 2020, cả nước có 237 trường đại học, học viện, 37 viện nghiên cứu khoa học được giao nhiệm vụ đào tạo trình độ tiến sĩ, 33 trường cao đẳng sư phạm và 2 trường trung cấp sư phạm. Công bằng xã hội trong tiếp cận giáo dục có nhiều tiến bộ. Hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú được mở rộng ở 49 tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương.
      Chất lượng giáo dục và đào tạo được nâng lên. Từ năm 2016 - 2019, Việt Nam có 187 lượt thí sinh tham dự thi Olympic khu vực và quốc tế, đạt 146 giải (45 Huy chương Vàng, 60 Huy chương Bạc, 35 Huy chương Đồng và 6 Bằng khen). Năm 2019, hệ thống giáo dục đại học Việt Nam xếp thứ 68/196 quốc gia trên thế giới. Việt Nam có 3 cơ sở giáo dục đại học được vào top 1.000 trường đại học tốt nhất thế giới; có 8 cơ sở giáo dục đại học Việt Nam nằm trong danh sách 500 trường đại học hàng đầu Châu Á.
      Công tác quản lý giáo dục có bước chuyển biến tích cực. Hiện nay, chúng ta đang tích cực tiến hành một “cuộc cách mạng” về giáo dục với việc đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI. Từ năm 2004 - 2016, Việt Nam đăng cai và tổ chức thành công nhiều kỳ thi quốc tế. Tính đến năm 2019, cả nước có tổng số 455 dự án FDI thuộc lĩnh vực giáo dục đào tạo; các nước đã cấp khoảng 1.400 suất/năm cho lưu học sinh Việt Nam.
      Về quốc phòng - an ninh
      Đã bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN; giữ vững an ninh quốc gia, ổn định chính trị - xã hội, trật tự an toàn xã hội và môi trường hòa bình để tập trung xây dựng và phát triển đất nước. Đây là thành tựu lớn nhất trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh. Xây dựng toàn diện nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân. Hệ thống pháp luật về bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội ngày càng được hoàn thiện. Nhà nước đã xây dựng, ban hành mới và bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về quốc phòng, an ninh: Luật An ninh quốc gia, Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, Luật Nghĩa vụ quân sự, Luật Dân quân tự vệ …
      Tiềm lực quốc phòng và an ninh được tăng cường; xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là lực lượng trung kiên bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ nhân dân và chế độ XHCN, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; làm tốt vai trò tham mưu, góp phần chủ động phòng ngừa, tấn công làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình”, hoạt động gây rối, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; đấu tranh, ngăn chặn và xử lý có hiệu quả các hoạt động cơ hội chính trị, các loại tội phạm hình sự.
      Hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh đạt nhiều kết quả. Đến năm 2019, chúng ta đã thiết lập quan hệ quốc phòng với hơn 80 quốc gia và tổ chức quốc tế; có 50 nước đặt tùy viên quân sự tại Việt Nam. Quân đội đã cử 37 lượt sĩ quan và tổ chức 2 bệnh viện dã chiến cấp 2 sang tham gia Phái bộ Gìn giữ hòa bình của Liên Hợp quốc tại Cộng hòa Trung Phi và Nam Xu-đăng.
      Về đối ngoại và hội nhập quốc tế
      Công tác đối ngoại đã góp phần duy trì, củng cố môi trường hòa bình ổn định, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chế độ XHCN. Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc (năm 1991), với Mỹ (năm 1995); đã thiết lập quan hệ tốt với 05 nước Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, toàn bộ 07 nước G7 và 17/20 nước thành viên G20. Số lượng các cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài là 65 đại sứ quán, 20 tổng lãnh sự quán, 04 phái đoàn thường trực bên cạnh các tổ chức quốc tế, 01 văn phòng kinh tế văn hóa. Chúng ta đã khéo léo, kiên trì, kiên quyết đấu tranh bằng nhiều hình thức, biện pháp phù hợp về các vấn đề trên biển Đông, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, vừa bảo vệ được độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền, vừa giữ vững được môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Đã hoàn thành việc tăng dày, tôn tạo mốc giới với Lào; đang triển khai việc thực hiện Nghị định thư và Hiệp định Quy chế biên giới Việt - Lào. Với Campuchia, hai nước cũng đã hoàn thành 84% việc phân giới cắm mốc và đang xúc tiến hoàn tất văn kiện ghi nhận những kết quả đạt được.
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân tiếp nhận chức Chủ tịch Đại hội đồng Liên nghị viện ASEAN lần thứ 41 (AIPA 41), tại lễ bế mạc Đại hội đồng AIPA 40 ở Bangkok (Thái Lan), sáng 29/8/2019
(Nguồn TTXVN)
 
      Công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế đã đóng góp tích cực vào việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Việt Nam chủ động tham gia các tổ chức kinh tế quốc tế: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) năm 1995, tham gia Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM) năm 1996, Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) năm 1998, Tổ chức Thương mại quốc tế (WTO) năm 2007; có mối quan hệ tích cực với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế như: Ngân hàng Thế giới, Quỹ tiền tệ thế giới, Ngân hàng phát triển Á Châu…
      75 năm qua, từ khi Cách mạng tháng Tám thành công và sự ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đất nước ta, nhân dân ta đã trải qua bao khó khăn, gian khổ từ nhiệm vụ đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước cũng như xây dựng, phát triển vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Những thành tựu đạt được trong 75 năm qua là công lao, cống hiến to lớn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta và sự giúp đỡ quý báu của bạn bè quốc tế. Chúng ta tự hào về những thành tựu to lớn đó, đúng như lời Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay” và phát huy cao độ niềm tự hào trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng trong năm 2021 và những năm tiếp theo với bước phát triển mới hướng tới kỷ niệm 100 năm Ngày thành lập Đảng, 100 năm Ngày thành lập nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
                                    Khánh Thiện

 (Nguồn: Ban Tuyên giáo Trung ương)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Các trang: 1  2  3  4  5  6  7  
Xem tin theo ngày
Trang chủ  Sơ đồ site
       
   LỰC LƯỢNG THANH NIÊN XUNG PHONG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH                 Người phát ngôn:  Đồng chí: Lê Minh Khoa, Chỉ huy trưởng Lực lượng TNXP TP. Hồ Chí Minh
       Địa chỉ: số 636, đường Võ Văn Kiệt, Phường 1, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh                    ĐT: (028) 38 249 624; Email: lmkhoa.tnxp@tphcm.gov.vn
       Điện thoại: (028) 38 249 623 – 38 249 624 – Fax: (08) 39 245 211                                                 Đồng chí: Nguyễn Văn Bình, Phó Chỉ huy trưởng Lực lượng TNXP TP. Hồ Chí Minh.
       Website: www.tnxp.hochiminhcity.gov.vn –  Email: tnxp@tphcm.gov.vn                                  ĐT: (028) 38 249 625; Email: nguyenvanbinh.tnxp@tphcm.gov.vn