Liên kết website

 

Số lượt truy cập
32902663
truyền thống cách mạng
Người là Hồ Chí Minh!

      
        Nguyễn Ái Quốc – Chủ tịch Hồ Chí Minh là một vị lãnh tụ vĩ đại, người thầy thiên tài của sự nghiệp cách mạng, đồng thời là người Bác, người Cha kính yêu, gần gũi của đồng bào, không kể thuộc tầng lớp nào, giới nào, chính kiến nào. Nghị quyết của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) về kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (Nghị quyết số 18C/4.351) thông qua tại khóa 18 Đại hội đồng UNESCO có ghi: “Chủ tịch Hồ Chí Minh, một biểu tượng xuất sắc về sự tự khẳng định dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”. Còn trong bài Điếu văn khi Bác mất, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã viết: “Dân tộc ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”.
 
       “Dân tộc ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh hùng dân tộc vĩ đại”. Cả 3 miền đất nước đều là quê hương Bác. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết trong quyển Hồ Chủ tịch, tinh hoa của dân tộc, lương tâm của thời đại, rằng: “Người là con chim phượng hoàng của núi Trường Sơn, với tầm mắt thấu suốt từ lưu vực sông Hồng, quê hương buổi đầu của dân tộc đến lưu vực sông Cửu Long giàu hoa quả và trí dũng”.
 
       Năm 1890, Nguyễn Sinh Cung, tự Tất Thành, tức Chủ tịch Hồ Chí Minh, được sinh ra giữa một vùng sen thơm ngát tại làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Nửa thế kỷ sau, khi Nguyễn Sinh Cung trở thành lãnh tụ Hồ Chí Minh, hương sen thời thơ ấu được nhắc lại tại một vùng sen ở miền Nam Tổ quốc
Tháp Mười đẹp nhất bong sen
Nước nam đẹp nhất có tên Cụ Hồ
       Cuộc đời cao đẹp của Bác Hồ bắt đầu và dừng lại trong phảng phất hương sen từ Kim Liên đến Ba Đình, đến Đồng Tháp Mười; từ Bắc đến Trung, Nam, cả 3 miền quấn quýt, cả nghìn dặm non sông đều là quê hương Bác.
 
       Một làng quê ở Nghệ Tĩnh – miền Trung – là nơi Bác cất tiếng khóc chào đời.
       Vùng quê ấy từng là phên giậu thời Đinh Lý, đất “cối kê” đời Trần, đất thang mộc (đất tắm gội của vua khi tế trời đất, thần linh, xã tắc và tổ tiên) đời Lê, là đất Phượng Hoàng trung đô thời Tây Sơn… Nghệ Tĩnh là nơi thiên nhiên phong phú nhưng cũng khắc nghiệt, thường xảy ra hạn han gay gắt, lụt bão bất ngờ. Hoàn cảnh đó buộc con người phải mồ hôi đổ lẫn nước mắt mới giành giật được với thiên nhiên từng miếng ăn, tấm áo mặc nên phải chắt lót, dành dụm.
 
       Nghệ Tĩnh là đất hiếu học, xưa đã nổi tiếng là xứ sở của các sĩ phu. Thiên nhiên khắc nghiệt nhưng dáng núi, thế sông với những hình khối, đường nét, màu sắc có vẻ thanh tú và hùng vĩ riêng. Và khí hậu thay đổi theo mùa ấm áp. Đó là những yếu tố để tạo nên sự rung cảm trong tâm hồn con người. Cho nên, cùng với khoa bảng, trí thức, đây cũng là xứ sở của thi nhân Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Phan Bội Châu… Không chỉ riêng thân phụ, mà cả bà ngoại và mẹ của Bác cũng là những người có tâm hồn thi sĩ.
 
       Con người xứ Nghệ bề ngoài mộc mạc, bình dị nhưng giàu đức khẳng khái, ngoan cường và thủy chung, tín nghĩa.
Phải chăng tất cả những điều đó đã góp phần tạo nên những đức tính linh hoạt, cần, kiệm, kiên nhẫn và tâm hồn thi nhân trong Bác?!
 
       Đường vào Nam
       Tháng 5 năm 1906, ông Nguyễn Sinh Sắc vào nhận chức thừa biện Bộ Lễ trong coi về việc học hành ở Quốc Tử Giám với hàm: Hàn lâm kiểm thảo, tòng bát phẩm. Bác Hồ - lúc ấy là cậu Nguyễn Sinh Cung – cũng theo Cha vào Huế. Không còn là cậu bé 5 tuổi của lần đầu đến Huế, cậu Cung đã biết quan sát, cảm nhận và có suy nghĩ riêng của mình về tình cảnh của nhân dân ở Thừa Thiên – Huế lúc bấy giờ. Những hành động chống Pháp của vua Thành Thái, vua Duy Tân, các phong trào yêu nước do Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh và các ông Lương Văn Can, Nguyễn Quyền khởi xướng… đã có những tác động mạnh mẽ vào kinh đô Huế, vào suy nghĩ của cậu Cung.
 
       Ông Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc tuy cùng tham gia bàn luận với các sĩ phu, song ông chưa hoàn toàn tin tưởng ở chủ trương cứu nước của một người nào. Cậu Nguyễn Sinh Cung cũng đã từ chối khi bạn của ông Phan Bội Châu trong Duy Tân hội bàn đưa cậu sang học ở Nhật. Theo cậu, “phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”. Trong thời gian học ở Huế, cậu Cung được biết đến khẩu hiệu: “Tự do – Bình đẳng – Bác ái”. Cậu cũng được nghe các sĩ phu bàn luận về khẩu hiệu này và cậu cũng đang muốn làm quen với văn minh Pháp, tìm xem những gì ẩn náu đằng sau những từ ấy.
 
       Những hiện tượng cư xử bất công, thái độ khinh miệt người bản xứ của bọn Pháp, từ ngoài xã hội len lỏi vào trong trường học. Thái độ và hành động miệt thị của người Pháp đối với người Việt Nam đã gây nên sự bất mãn trong một số thầy giáo người Việt Nam. Có 2 thầy giáo đã có nhiều tác động đến cậu học sinh Nguyễn Sinh Cung. Đó là cụ Hoàng Thông và họa sĩ Lê Văn Miến. cụ Hoàng Thông đã giúp học sinh Cung hiểu rằng: “Nước vì bất hạnh mà mất, không phải mất nước của một họ riêng mà thôi… cùng mất nước, dân tộc bị diệt chủng”. Năm 1908, cụ dạy Nguyễn Sinh Cung, thấy trò Cung là người có tâm huyết nên cụ rất quý mến và đã giao làm nhiệm vụ liên lạc. Họa sĩ Lê Văn Miến là người dạy vẽ cho học sinh Cung ở trường Quốc học. Sau các giờ dạy hoặc các lúc đi du ngoạn, cụ hay kể chuyện nước Pháp cho học sinh nghe, rằng: người Pháp ở nước Pháp khác người Pháp ở các nước thuộc địa, ở bên Pháp cũng có những người ăn mày, những ông già bà lão không nơi nương tựa phải chống gậy đi lục thùng rác tìm cái ăn, từ nhân dân lao động đến các vị hàn lâm Pháp đều rất trong những người Việt Nam học giỏi và có tư cách… Những chuyện của cụ Miến kể có ảnh hưởng đến trò Cung. Nhiều người cùng học với Chủ tịch Hồ Chí Ming thời thiếu niên đã nhận xét: “Việc dạy dỗ của thầy là một yếu tố quan trọng trong việc hình thành tư tưởng sang Tây chứ không sang Đông của Chủ tịch Hồ Chí Minh thời trẻ”.
 
       Làn sóng đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân trong kinh thành Huế đã tác động rất lớn tới tâm trí cậu Cung. Cậu tham gia phong trào với tất cả nhiệt tình yêu nước đã nung nấu bấy lâu nay. Tình thế cách mạng có nhiều thay đổi, gây cho Nguyễn Sinh Cung niềm xúc động lớn và càng thôi thúc ý chí ra đi tìm đường cứu nước của cậu. Tham gia phong trào đấu tranh của nhân dân, cậu cung đã nhận thấy rõ bộ mặt kẻ thù và cậu sớm nhận thấy được sức mạnh đấu tranh của nhân dân khi họ đã vùng lên. Nhưng, làm thế nào để nhân dân vùng lên thì cậu chưa đủ tri thức để nghĩ ra. Nguyễn Sinh Cung quyết định thực hiện ý định của mình là ra nước ngoài xem xét cách làm của họ rồi trở về giúp đồng bào cứu nước. Cậu quyết định sang phương Tây. Cậu học sinh Nguyễn Sinh Cung lúc này đã là anh Nguyễn Tất Thành
 
       Trên bước đường vào Nam, Nguyễn Tất Thành đã từng dừng lại ở Quy Nhơn, Phan Thiết. Rồi từ Phan Thiết, anh Nguyễn Tất Thành đi xe lửa vào Sài Gòn vào năm 1910. Người thanh niên yêu nước ra đi một mình, nhưng được sự chuẩn bị của một đại gia đình bao nhiêu bậc đàn anh trong thế hệ nho sĩ lớp trước nên khi tới Sài Gòn, anh Thành không bị đơn độc, mau chóng làm quen với thành phố âu hóa này.
 
       Tàu Amiral Latouche Tréville là một trong những chiếc tàu tham gia chạy tuyến Pháp – Đông Dương. Ngày 3 tháng 6 năm 1911, Nguyễn Tất Thành được nhận vào làm việc trên tàu với tên gọi Văn Ba. Công việc lúc này của Người là làm phụ bếp. Ngày 5 tháng 6 năm 1911, tại bến cảng Sài Gòn, tàu Amiral Latouche Tréville rời bến, đánh dấu bước ngoặc quan trọng trong cuộc đời cách mạng của Nguyễn Tất Thành và phong trào giải phóng dân tộc. Hành trang trước lúc ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành là truyền thống yêu nước, đoàn kết của dân tộc, là vốn văn hóa phương Đông và một phần văn hóa phương Tây. Đó là những vốn quý, là cơ sở quan trọng để tiếp thu chân lý cách mạng, là nhân tố đầu tiên của quá trình hình thành chiến lược đoàn kết quốc tế của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh.
 
 
                                                                                      (Còn nữa)
                                                                            
 
                                                                                      Linh Phụng

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Các trang: 1  2  3  4  5  6  
Xem tin theo ngày
Trang chủ  Sơ đồ site
       
   LỰC LƯỢNG THANH NIÊN XUNG PHONG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH                 Người phát ngôn:  Đồng chí: Lê Minh Khoa, Chỉ huy trưởng Lực lượng TNXP TP. Hồ Chí Minh
       Địa chỉ: số 636, đường Võ Văn Kiệt, Phường 1, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh                    ĐT: (028) 38 249 623; Email: lmkhoa.tnxp@tphcm.gov.vn
       Điện thoại: (028) 38 249 623 – 38 249 624 – Fax: (08) 39 245 211                                                 Đồng chí: Nguyễn Văn Bình, Phó Chỉ huy trưởng Lực lượng TNXP TP. Hồ Chí Minh.
       Website: www.tnxp.hochiminhcity.gov.vn –  Email: tnxp@tphcm.gov.vn                                  ĐT: (028) 38 249 623; Email: nguyenvanbinh.tnxp@tphcm.gov.vn